Lịch sử Hóc Môn có thể đọc như lịch sử một vùng ven làm "hậu phương" cho Sài Gòn: thế kỷ XIX là vườn trầu cung cấp cho chợ búa Sài Gòn – Chợ Lớn; thế kỷ XX là vùng rau, lúa và cửa ngõ đường đi Tây Ninh; từ cuối thế kỷ XX đến nay là nơi đón người lao động nhập cư, đặt chợ đầu mối, bến xe, kho bãi. Mỗi thời kỳ, thứ Hóc Môn "cung cấp" cho đô thị thay đổi, còn vị trí thì giữ nguyên.
Bài này đi qua các thời kỳ theo cách nhìn ấy, để giải thích vì sao Hóc Môn hôm nay vừa còn dấu vết làng quê, vừa mang dáng vẻ đô thị hoá mạnh. Phần chi tiết về nông nghiệp, chợ đầu mối và giao thông hiện nay được viết ở các mục riêng của trang; ở đây chỉ giữ góc nhìn lịch sử.
Thế kỷ XIX: trầu và lúa xuôi về chợ
Khi Sài Gòn – Chợ Lớn đã là thị tứ đông đúc, các làng vùng tây bắc như Hóc Môn – Bà Điểm làm vai trò cung cấp nông sản. Lá trầu là mặt hàng nổi bật nhất, gắn với tên gọi Mười tám thôn vườn trầu. Ngoài trầu, các làng còn có lúa, cau, cây trái, gia súc, gia cầm. Hàng hoá đi theo hai ngả: đường bộ bằng gánh, bằng xe bò trên các lối đi trên giồng; đường thuỷ bằng ghe theo các rạch ra sông Sài Gòn.
Quan hệ ấy là quan hệ hai chiều. Hóc Môn bán nông sản và mua về từ Sài Gòn những thứ làng không làm ra: vải vóc, đồ sắt, muối, dầu, hàng tạp hoá. Chợ Hóc Môn và các chợ quê khác là điểm trung chuyển, nơi người buôn từ Sài Gòn lên gom hàng và người làng ra mua đồ.
Sự gắn kết kinh tế ấy giải thích một phần vì sao những biến động chính trị ở Sài Gòn lan nhanh về Hóc Môn và ngược lại. Khi người Pháp chiếm Gia Định, vùng này nằm ngay sát trung tâm quyền lực mới, chịu thuế, chịu phu phen trực tiếp, và cũng là nơi phản kháng sớm. Phần ấy thuộc mục di tích lịch sử.
Nửa đầu thế kỷ XX: rau, đường sá và người đi làm
Sang thế kỷ XX, cùng với việc Sài Gòn mở rộng và thói quen ăn trầu dần giảm, vai trò của Hóc Môn chuyển sang các loại rau màu, lúa và hoa quả cho thị trường đô thị. Rau Hóc Môn trở thành cái tên quen với các bà nội trợ Sài Gòn qua nhiều thế hệ. Đường bộ được cải thiện, có xe đò, có đường sắt nhỏ theo nhiều tài liệu kể, giúp nông sản xuống chợ nhanh hơn.
Cũng từ thời kỳ này, một số người Hóc Môn bắt đầu đi làm ở Sài Gòn: làm thợ, làm công chức, buôn bán, rồi về nhà vào cuối tuần hoặc mỗi tối. Hình thức "sống ở Hóc Môn, làm ở Sài Gòn" có mầm từ khá sớm, dù khi ấy còn ít người. Con cái các gia đình khá giả được gửi xuống Sài Gòn học, mang về những ý tưởng mới, cả những tờ báo và sách vở, góp phần làm cho vùng này sôi động về tư tưởng những năm 1930.
Song song, Hóc Môn là vùng nằm trên trục đi Tây Ninh và xa hơn là Campuchia. Người và hàng hoá đi lại trên trục này qua khu chợ Hóc Môn và vùng Bà Điểm, tạo nên vai trò cửa ngõ mà sau này càng rõ nét.
Thời chiến tranh: vùng ven giữa hai phía
Trong khoảng ba mươi năm từ 1945 đến 1975, vị trí sát Sài Gòn khiến Hóc Môn ở vào thế đặc biệt: vừa là vùng chính quyền Sài Gòn muốn kiểm soát chặt để bảo vệ đô thị, vừa là nơi lực lượng kháng chiến tìm cách bám trụ để áp sát đô thị. Ruộng vườn, làng xóm bị chiến tranh tàn phá ở nhiều thời điểm; dân cư có lúc phải di tản, có lúc bị dồn vào các khu tập trung.
Về kinh tế, quan hệ cung cấp nông sản cho Sài Gòn vẫn tiếp diễn, dù lúc thịnh lúc suy theo tình hình. Một bộ phận người dân dời hẳn xuống thành phố sinh sống; một bộ phận người từ nơi khác chạy loạn về Hóc Môn ở tạm, ở luôn. Dòng người ra vào ấy làm thành phần dân cư của vùng đa dạng hơn trước.
Bài này không đi vào chi tiết các sự kiện quân sự, chính trị của thời kỳ này. Những di tích, nhân vật, sự kiện có thật được ghi danh trên đất Hóc Môn được viết ở mục di tích lịch sử của trang, với sự thận trọng về năm tháng và con số.
Sau 1975 đến cuối thế kỷ XX: huyện nông nghiệp ngoại thành
Sau năm 1975, Hóc Môn là huyện ngoại thành của TP Hồ Chí Minh với nhiệm vụ chính là sản xuất nông nghiệp: lúa, rau, chăn nuôi. Trong những năm khó khăn của thập niên 1980, vai trò "vành đai thực phẩm" của các huyện ven như Hóc Môn càng được coi trọng, vì thành phố cần nguồn rau, thịt, trứng gần để giảm phụ thuộc vào vận chuyển từ xa.
Từ cuối thập niên 1980 và trong thập niên 1990, khi kinh tế mở cửa, dòng người nhập cư về TP Hồ Chí Minh tăng mạnh. Các xã phía nam Hóc Môn, giáp Gò Vấp, Tân Bình, đón một lượng lớn người đến thuê trọ, mua đất làm nhà, vì đất rẻ hơn nội thành mà vẫn gần chỗ làm. Nhà xưởng nhỏ, cơ sở sản xuất mọc lên dọc các trục đường lớn.
Năm 1997, phần đô thị hoá nhanh nhất ở phía nam và đông nam được tách ra lập Quận 12. Phần còn lại của Hóc Môn tiếp tục là huyện, nhưng chính phần ấy cũng nhanh chóng đi theo con đường tương tự ở các xã giáp ranh.
Từ đầu thế kỷ XXI: cửa ngõ của một đô thị lớn
Chợ đầu mối. Hóc Môn có chợ đầu mối nông sản thực phẩm, một trong các chợ đầu mối lớn của thành phố, nơi rau quả từ nhiều tỉnh đổ về mỗi đêm rồi toả đi các chợ lẻ. Vai trò "nuôi" đô thị của Hóc Môn chuyển từ tự trồng sang trung chuyển.
Bến xe và trục quốc lộ. Bến xe An Sương trên đất Bà Điểm và trục Quốc lộ 22 đi Tây Ninh làm Hóc Môn thành cửa ngõ Tây Bắc, nơi người và hàng từ các tỉnh phía tây bắc, cả hàng qua biên giới, vào thành phố.
Nơi ở của người lao động. Hàng trăm khu nhà trọ, khu dân cư mới đón công nhân, người buôn bán, người làm dịch vụ ở các khu công nghiệp, các quận lân cận. Dân số tăng nhanh hơn nhiều so với tốc độ xây trường, trạm, đường.
Kho bãi, xưởng nhỏ. Dọc các trục đường lớn là kho hàng, bãi xe, xưởng sản xuất nhỏ, tận dụng đất rộng hơn và giá thuê mềm hơn nội thành.
Nông nghiệp thu hẹp và đổi kiểu. Đất nông nghiệp giảm mạnh; phần còn lại chuyển sang các loại cây con giá trị cao hơn, như hoa, cây kiểng, rau trong nhà màng, phù hợp với vùng ven đô.
Đọc lại mối quan hệ: Hóc Môn được gì, mất gì
Nhìn qua các thời kỳ, vị trí gần Sài Gòn mang lại cho Hóc Môn cả cơ hội lẫn áp lực. Cơ hội là thị trường luôn sẵn cho nông sản, việc làm cho con em, và về sau là giá trị đất tăng lên khi đô thị lan tới. Áp lực là vùng này luôn chịu tác động trực tiếp của mọi biến động ở trung tâm: chiến tranh, chính sách, làn sóng nhập cư, và giờ là sức ép hạ tầng của một đô thị hàng chục triệu dân.
Cái mất dễ thấy nhất là cảnh quan làng quê và một phần ký ức: vườn trầu thưa dần, ruộng biến thành nhà, kênh rạch bị lấp hoặc ô nhiễm, nhiều tên đất cũ không còn ai gọi. Cái được là đời sống vật chất của phần lớn gia đình khá hơn nhiều so với vài thập kỷ trước, con cái có nhiều lựa chọn học hành, việc làm hơn.
Từ năm 2025, khi Hóc Môn không còn là "huyện" mà là bốn xã trực thuộc một thành phố lớn hơn trước, mối quan hệ ấy bước sang giai đoạn mới. Hướng đi của vùng sẽ được định bởi các quy hoạch chính thức và bởi lựa chọn của chính người dân; những ai làm ăn, mua bán nhà đất nên dựa vào văn bản hiện hành chứ không phải dự đoán. Còn với người muốn hiểu vùng đất, câu chuyện "vùng ven nuôi đô thị" qua mấy trăm năm là chìa khoá để đọc mọi thứ đang diễn ra.
Ba thế hệ một gia đình Hóc Môn: một ví dụ giả định
Để thấy những thay đổi trên rõ hơn, hãy hình dung một gia đình ở Xuân Thới Đông cũ qua ba thế hệ (ví dụ giả định, ghép từ nhiều câu chuyện thường gặp). Người ông sinh trước chiến tranh, cả đời làm ruộng, trồng rau, sáng sớm chở rau ra chợ Hóc Môn bán cho bạn hàng. Thu nhập của cả nhà dựa vào mảnh đất và thời tiết; Sài Gòn là chỗ thỉnh thoảng mới xuống, khi có việc lớn.
Người cha lớn lên những năm 1980–1990, vẫn làm vườn nhưng thêm nghề khác: chạy xe chở hàng, mở một tiệm sửa xe bên đường lớn, cho công nhân thuê vài phòng trọ dựng trên phần đất vườn. Mảnh đất không còn chỉ để trồng, mà để ở, để cho thuê, để buôn bán. Sài Gòn đã gần hơn nhiều: đi làm, đi học, đi khám bệnh đều xuống thành phố.
Người con sinh sau năm 2000 học đại học ở thành phố, đi làm văn phòng hoặc làm cho một doanh nghiệp, sống ở Hóc Môn nhưng đời sống hằng ngày gắn với cả thành phố. Phần vườn còn lại có khi được giữ làm nhà thờ họ, có khi đã bán. Với người con, "ở Hóc Môn" là một địa chỉ, còn với người ông, đó là cả thế giới.
Câu chuyện giả định ấy không đúng cho mọi gia đình, nhưng phản ánh khá sát đường cong chung của vùng: từ sống nhờ đất sang sống nhờ vị trí. Nó cũng giải thích vì sao trong cùng một con hẻm ở Hóc Môn hôm nay có thể thấy cả giàn bầu sau nhà, dãy phòng trọ mới sơn và chiếc xe tải giao hàng đậu trước cửa. Ba thế hệ sinh kế cùng tồn tại trên một mảnh đất, và mỗi thế hệ nhìn mảnh đất ấy bằng một con mắt khác. Hiểu được điều đó, người mới đến sẽ bớt ngạc nhiên trước những cảnh tưởng như trái ngược của vùng ven.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao Hóc Môn nổi tiếng về rau?
Hóc Môn có đất vườn, nước tưới và nằm gần thị trường Sài Gòn, nên từ lâu đã trồng rau cung cấp cho đô thị. Qua nhiều thế hệ, "rau Hóc Môn" thành cái tên quen. Nay diện tích trồng rau đã giảm nhiều do đô thị hoá, một phần chuyển sang trồng trong nhà màng.
Hóc Môn bắt đầu đô thị hoá mạnh từ khi nào?
Đô thị hoá mạnh từ cuối thập niên 1980 và thập niên 1990, khi dòng người nhập cư về TP Hồ Chí Minh tăng nhanh, nhất là ở các xã phía nam giáp Gò Vấp, Tân Bình. Năm 1997 phần đô thị hoá nhanh nhất được tách lập Quận 12, nhưng xu hướng vẫn tiếp tục ở các xã còn lại.
Chợ đầu mối Hóc Môn có từ bao giờ?
Chợ đầu mối nông sản thực phẩm Hóc Môn là một trong các chợ đầu mối lớn của TP Hồ Chí Minh, hình thành trong giai đoạn thành phố sắp xếp lại hệ thống chợ đầu mối. Năm khai trương và quy mô cụ thể nên tra thông tin chính thức của ban quản lý chợ.
Hóc Môn có phải là vùng nông thôn không?
Về danh xưng, bốn đơn vị mới đều là xã. Về thực tế, nhiều khu ở Hóc Môn đã là phố, đông dân, buôn bán sầm uất, trong khi một số khu ven sông, phía tây vẫn còn ruộng vườn. Hóc Môn là vùng chuyển tiếp, không hoàn toàn nông thôn cũng chưa hoàn toàn đô thị.
Vì sao gọi Hóc Môn là cửa ngõ Tây Bắc?
Vì Hóc Môn nằm trên trục Quốc lộ 22 đi Tây Ninh và cửa khẩu biên giới, có bến xe An Sương và nút giao An Sương nơi gặp Quốc lộ 1. Người và hàng từ các tỉnh phía tây bắc vào thành phố phần lớn đi qua vùng này.