Chi phí sinh hoạt ở Hóc Môn nhìn chung dễ thở hơn nội đô ở khoản nhà ở và đồ ăn tươi, nhưng có thể cao hơn ở khoản đi lại: xăng, thời gian, hao mòn xe khi phải đi xa qua các nút cửa ngõ mỗi ngày. Tổng chi tiêu của một gia đình vì thế phụ thuộc nhiều vào việc mọi người đi làm, đi học ở đâu, hơn là vào việc nhà ở Hóc Môn rẻ hay đắt.
Bài này không nêu giá cụ thể vì giá thay đổi theo thời gian và từng khu. Thay vào đó, bài chia chi phí thành các khoản, giải thích yếu tố nào làm mỗi khoản tăng giảm ở vùng ven đô này, và gợi ý cách tự lập ngân sách trước khi chuyển tới. Mọi con số trong bài là ví dụ giả định để minh hoạ cách tính.
Nhà ở: khoản lớn nhất và nhiều biến số nhất
Với người thuê, tiền nhà là khoản cố định lớn nhất. Ở Hóc Môn, cùng một mức tiền có thể thuê được không gian rộng hơn nội đô, nhưng giá chênh nhiều theo vị trí: gần An Sương, gần khu trung tâm, mặt tiền trục chính đắt hơn hẳn trong hẻm sâu hay vùng xa. Ngoài tiền thuê còn có tiền cọc giữ lại, tiền điện nước tính theo cách của chủ nhà, phí rác, phí giữ xe.
Với người mua, khoản nhà ở chuyển thành tiền trả nợ vay nếu có, cộng chi phí sửa chữa, nâng nền, chống thấm, những thứ hay phát sinh với nhà ở vùng ven. Người mua nhà cũ trên đất gốc nên dành riêng một quỹ cho việc sửa chữa trong vài năm đầu.
Một điểm hay bị quên là chi phí chuyển nhà và ổn định ban đầu: tiền xe chuyển đồ, mua sắm thêm đồ dùng cho nhà rộng hơn, lắp đặt internet, rèm, lưới chống muỗi. Những khoản này không lặp lại hàng tháng nhưng có thể làm rỗng quỹ dự phòng của tháng đầu tiên.
Đi lại: khoản bị đánh giá thấp nhất
Người chuyển từ nội đô lên Hóc Môn thường so tiền nhà mà quên tiền đi lại. Nếu một người phải đi làm vào nội đô mỗi ngày, quãng đường dài hơn kéo theo tiền xăng nhiều hơn, bảo dưỡng xe thường hơn, lốp và phanh mòn nhanh hơn trên đường nhiều xe tải. Gia đình có hai người đi làm hai hướng khác nhau, chi phí đi lại có thể tăng gấp đôi.
Thời gian cũng là chi phí. Ví dụ giả định: một người mất thêm bốn mươi phút mỗi chiều so với khi ở nội đô; sau một tháng làm việc, đó là nhiều chục giờ ngồi trên xe. Thời gian đó có thể được quy ra thu nhập bị mất nếu người đó làm thêm, hoặc ra sức khoẻ, thời gian cho con cái.
Ngược lại, với người làm ở chính Hóc Môn, ở khu công nghiệp phía Củ Chi hay Quận 12 cũ, chuyển tới Hóc Môn lại giảm chi phí đi lại. Vì vậy hãy tính khoản này theo hành trình thật của từng thành viên, không theo cảm giác chung.
Ăn uống: lợi thế của vùng có chợ đầu mối
Hóc Môn có chợ đầu mối nông sản thực phẩm và nhiều chợ xã, chợ tự phát. Rau củ, trái cây, thịt cá ở đây thường tươi và đa dạng. Gia đình nấu ăn ở nhà, đi chợ sáng sớm, mua theo mùa có thể giữ khoản ăn uống ở mức hợp lý.
Ăn ngoài cũng nhiều lựa chọn bình dân, vì có lượng lớn người lao động. Quán cơm, hủ tiếu, bánh mì, cà phê vỉa hè mở từ sáng sớm. Người độc thân ở trọ thường ăn ngoài phần lớn bữa; khoản này có thể lớn hơn nhiều so với tự nấu nếu cộng dồn cả tháng.
Một mẹo của người địa phương: mua rau củ ở chợ xã vào buổi sáng, mua trái cây theo mùa của vườn quanh vùng, mua thịt cá ở sạp quen. Mua theo mùa vừa rẻ hơn vừa ngon hơn. Tránh mua dồn quá nhiều vì nhà trọ nhỏ thường thiếu chỗ bảo quản, đồ tươi hỏng là tiền mất.
Điện, nước, internet và các khoản hằng tháng khác
Tiền điện ở vùng nắng nóng phụ thuộc chính vào máy lạnh. Nhà rộng, nhiều phòng, mái tôn không cách nhiệt, hướng tây đều làm tiền điện tăng. Với người thuê trọ, cách tính tiền điện của chủ nhà quyết định nhiều hơn số điện thực dùng.
Nước sinh hoạt: nơi có nước máy thì trả theo đồng hồ; nơi dùng giếng khoan thì không có hoá đơn nước nhưng tốn tiền điện bơm, tiền lắp và thay lõi lọc, có khi phải mua nước uống đóng bình. Đừng nghĩ dùng giếng là miễn phí.
Internet, điện thoại, truyền hình, phí rác, phí vệ sinh, phí giữ xe là các khoản nhỏ lẻ nhưng cộng lại không ít. Hãy liệt kê đủ ngay từ đầu, kể cả những khoản thu theo quý hay theo năm, vì chúng dễ bị quên khi tính ngân sách tháng.
Một khoản hay bị bỏ sót ở nhà vùng ven là chi phí bảo trì: thay bóng đèn ngoài sân, sửa máy bơm, vệ sinh bồn nước, phát cỏ vườn, xịt muỗi. Nhà càng rộng, khoản này càng lớn. Ví dụ giả định: nếu mỗi tháng để riêng một phần nhỏ cho bảo trì, cuối năm sẽ có sẵn tiền khi máy bơm hỏng hay mái cần sửa trước mùa mưa.
Học hành, y tế và các khoản không đều
Gia đình có con nhỏ cần tính học phí hoặc các khoản thu ở trường, tiền học thêm, đồng phục, sách vở, tiền ăn bán trú, tiền xe đưa đón nếu có. Mầm non ngoài công lập thường là khoản lớn nhất trong nhóm này.
Y tế: bảo hiểm y tế giúp giảm phần lớn chi phí khám chữa bệnh thông thường; khoản tự chi thường là thuốc ngoài danh mục, khám dịch vụ, tiêm chủng dịch vụ. Người già có bệnh mạn tính cần được tính riêng.
Các khoản không đều như đám tiệc, hiếu hỉ, lễ Tết, về quê, sửa xe, sửa nhà thường làm vỡ ngân sách. Ở vùng ven đô, quan hệ hàng xóm, họ hàng gần gũi hơn nội đô, đám tiệc nhiều hơn; nên để riêng một khoản hằng tháng cho nhóm này.
Cách làm đơn giản là chia các khoản không đều thành phần trăm nhỏ mỗi tháng và để ở một tài khoản riêng. Khi tới mùa nhập học, mùa Tết hay đợt về quê, gia đình không phải vay mượn hoặc cắt giảm tiền ăn của những tháng sau.
Khung lập ngân sách tháng (ví dụ giả định)
Bảng dưới là khung để tự điền, kèm ví dụ giả định cho một gia đình bốn người: hai vợ chồng đi làm, hai con đi học. Đơn vị là phần trăm tổng chi tiêu, không phải số tiền thật.
| Khoản | Ví dụ giả định | Câu hỏi để tự ước tính |
|---|---|---|
| Nhà ở (thuê hoặc trả nợ, sửa chữa) | khoảng 25–35% | Thuê hay mua, nhà cũ cần sửa gì? |
| Ăn uống | khoảng 25–30% | Bao nhiêu bữa ăn ngoài mỗi tuần? |
| Đi lại | khoảng 8–15% | Mỗi người đi đâu, mấy cây số, qua nút kẹt nào? |
| Điện, nước, mạng, phí | khoảng 5–10% | Dùng máy lạnh bao nhiêu giờ, nước máy hay giếng? |
| Học hành | khoảng 8–15% | Mầm non công hay tư, học thêm gì? |
| Y tế, bảo hiểm | khoảng 3–7% | Có người già, người bệnh mạn tính không? |
| Hiếu hỉ, dự phòng, tiết kiệm | phần còn lại | Đã để riêng quỹ dự phòng chưa? |
Tỷ lệ trong bảng chỉ để minh hoạ cách chia, không phải mức chuẩn. Gia đình nên ghi chép chi tiêu thật trong hai ba tháng đầu ở chỗ mới rồi điều chỉnh lại khung.
Những cách tiết kiệm người ở lâu hay dùng
Sống gần chỗ làm của người đi làm xa nhất. Chọn chỗ ở theo hành trình của người phải đi xa nhất giúp giảm khoản đi lại lớn nhất trong nhà.
Đi chợ sáng, mua theo mùa. Chợ xã và chợ quanh chợ đầu mối có hàng tươi, giá theo mùa; tránh mua lẻ nhiều lần trong ngày ở tiệm tạp hoá.
Giảm nắng cho nhà. Trồng cây, làm mái che, dán phim cách nhiệt cho cửa kính hướng tây giúp bớt giờ chạy máy lạnh.
Dùng đúng tầng y tế. Bệnh thông thường khám ở trạm y tế, giữ bảo hiểm y tế liên tục, tránh tự mua thuốc không cần thiết.
Chia sẻ trong xóm. Nhiều gia đình đi chung xe đưa con đi học, mua chung hàng từ vườn, mượn dụng cụ của nhau. Ở vùng ven, quan hệ hàng xóm là một nguồn lực thật.
Ghi chép ba tháng đầu. Chi tiêu ở nơi mới luôn khác với dự tính. Ghi lại từng khoản trong ba tháng đầu, kể cả khoản nhỏ như ly cà phê, gói thuốc, tiền gửi xe, sẽ cho thấy tiền thật sự đi đâu và khoản nào có thể cắt.
Mua sắm hằng ngày: chợ, tạp hoá và cửa hàng tiện lợi
Ở Hóc Môn, mỗi kênh mua sắm có giá và sự tiện lợi khác nhau. Chợ xã và chợ tự phát buổi sáng hợp cho rau, thịt, cá, trái cây, thường tươi và mặc cả được. Tiệm tạp hoá trong hẻm tiện cho gạo, dầu ăn, nước mắm, đồ dùng lặt vặt, nhiều tiệm cho khách quen ghi sổ trả cuối tháng. Cửa hàng tiện lợi và siêu thị nhỏ dọc trục chính mở muộn, giá niêm yết rõ, hợp cho người đi làm về khuya.
Thói quen hay làm hao tiền là mua lẻ nhiều lần trong ngày ở chỗ tiện nhất. Ví dụ giả định: một món đồ khô mua ở cửa hàng tiện lợi có thể cao hơn vài phần so với mua theo lốc ở chợ hay tiệm tạp hoá quen. Từng lần thì nhỏ, nhưng cộng cả tháng cho cả nhà thì đáng kể.
Cách nhiều gia đình làm là lập danh sách đồ khô dùng trong tuần, mua một lần vào cuối tuần, còn đồ tươi mua ở chợ sáng theo ngày. Đặt hàng trực tuyến cũng tiện, nhưng nhớ cộng phí giao và kiểm tra hàng khi nhận.
So sánh hai phương án chỗ ở bằng một phép tính đơn giản
Nhiều gia đình phân vân giữa ở gần chỗ làm với tiền nhà cao hơn, và ở xa hơn trong Hóc Môn với tiền nhà thấp hơn. Có thể so bằng một phép tính tổng chi phí trong một năm, gồm tiền nhà, tiền đi lại và giá trị thời gian. Ví dụ giả định: phương án A tiền nhà mỗi tháng là 10 phần, đi lại 1 phần; phương án B tiền nhà 7 phần, đi lại 3 phần. Tính riêng tiền, B rẻ hơn 1 phần mỗi tháng.
Nhưng nếu phương án B làm mỗi người mất thêm một giờ đi lại mỗi ngày, cộng cả năm là hàng trăm giờ. Khi gia đình quy thời gian đó ra thu nhập có thể kiếm thêm, hoặc ra thời gian dành cho con, khoản tiết kiệm 1 phần mỗi tháng có thể không còn hấp dẫn.
Phép tính này không có đáp án chung. Có gia đình chấp nhận đi xa để có nhà rộng, sân vườn, ông bà ở cùng; có gia đình ưu tiên thời gian. Điều quan trọng là đưa đủ các yếu tố lên bàn trước khi quyết định, thay vì chỉ nhìn tiền nhà.
Câu hỏi thường gặp
Sống ở Hóc Môn có rẻ hơn ở nội đô không?
Thường rẻ hơn ở khoản nhà ở và đồ ăn tươi, nhưng có thể đắt hơn ở khoản đi lại nếu phải vào nội đô mỗi ngày. Tổng chi phí phụ thuộc vào nơi làm việc, nơi học của từng thành viên, nên cần tính theo hành trình thật của gia đình mình.
Một người độc thân ở trọ Hóc Môn cần tính những khoản nào?
Tiền phòng, điện nước theo cách tính của chủ trọ, rác, internet, giữ xe, ăn uống, xăng xe, điện thoại, và một khoản dự phòng cho ốm đau, sửa xe, về quê. Ghi chép chi tiêu trong một hai tháng đầu sẽ cho con số thật của riêng mình.
Dùng nước giếng có tiết kiệm hơn nước máy không?
Không hẳn. Dùng giếng không có hoá đơn nước nhưng tốn tiền điện bơm, chi phí lắp và thay lõi lọc, có khi phải mua nước uống. Quan trọng hơn là chất lượng nước; nếu chưa xét nghiệm, không nên dùng nước giếng để uống trực tiếp.
Làm sao giảm tiền điện mùa nóng ở Hóc Môn?
Giảm nắng chiếu vào nhà bằng cây, mái che, rèm cản nhiệt; đặt máy lạnh ở nhiệt độ vừa phải, đóng kín phòng khi chạy máy; vệ sinh máy định kỳ. Với nhà thuê, hỏi rõ cách tính tiền điện trước khi lắp thêm thiết bị tiêu thụ nhiều điện.
Có nên vay mua nhà ở Hóc Môn để thay tiền thuê?
Đây là quyết định tài chính riêng của từng gia đình, phụ thuộc thu nhập ổn định, khoản trả nợ hằng tháng, quỹ dự phòng và pháp lý của căn nhà. Trang không khuyên mua hay không; nên tính kỹ khả năng trả nợ trong tình huống thu nhập giảm và tham khảo người có chuyên môn.